CÂU CHUYỆN NÊN ĐỌC MỘT LẦN TRONG ĐỜI - ĐỂ BIẾT NÊN LÀM GÌ VỚI ÔNG BÀ TỔ TIÊN NHÀ MÌNH

Ngõ lời ! Câu chuyện được trích ra từ cuốn sách ký sự của nhà báo Hoàng Anh Sướng, phóng viên báo Tuổi Trẻ Việt Nam. Trong cuốn sách TIẾNG VỌNG TỪ NHỮNG LINH HỒN kể về rất nhiều câu chuyện thực tế rất ly kì, sống động. Qua những câu chuyện như vậy sẽ giúp ta tự chiêm nghiệm lại chính mình, cuộc sống của mình và biết cách nên ứng xữ như thế nào cho phù hợp.

Ngày đăng: 12-12-2019

384 lượt xem

( sách ký sự của nhà báo Hoàng Anh Sướng )

 

Sau khi đọc câu chuyện bên dưới nếu bạn thấy đây là cuốn sách hay đáng để đọc một lần trong đời để tránh khi nhắm mắt xuôi tay rồi mới hối tiếc thì bạn hãy lên sàn thương mại điện tử Tiki đặt mua một cuốn sách về đọc chơi cho vui. Biết đâu bạn ngộ ngộ ra một điều gì đó mà đáng lẽ ra bạn phải biết từ lâu rồi.

 

HÀNH TRÌNH TÌM MỘ EM GÁI CỦA GIÁO SƯ TRẦN PHƯƠNG

Tự sự của Giáo sư Trần Phương 

“Chưa bao giờ tôi tin ở đời lại có linh hồn, thần thánh, ma quỷ. Ngay cả ngày giỗ bố mẹ, tôi cũng chẳng làm cơm cúng hay thắp hương khói gì sất, chỉ sửa một lọ hoa tươi để tưởng nhớ người đã khuất. Bởi tôi vốn dĩ được đào tạo theo tinh thần khoa học thực nghiệm. Cái gì chứng minh được mới tin là có. Cái gì chưa chứng minh được thì dứt khoát không tin. Cho nên, lúc cùng đường, nhờ các nhà ngoại cảm tìm mộ em gái vốn là đội trưởng đội du kích Hoàng Ngân, trái tim tha thiết tìm thấy mà lý trí tôi cố tĩnh táo để tìm cách chống chọi lại khả năng gọi hồn, thấu thị … của họ. Vậy mà tôi hoàn toàn bị khuất phục trước khả năng đặc biệt của hai nhà ngoại cảm nổi tiếng:  Nguyễn Văn Nhã và Phạm Thị Bích Hằng, người vẻ mộ, người gọi hồn. 24 ngày mò tìm trong bí ẩn, cuối cùng, tôi đã tìm được hài cốt người em gái sau ngót 50 năm trôi dạt.”

( Chú thích: Tự sự của Giáo sư Trần Phương )

 

( Chú thích: Giáo sư Trần Phương )

 

TÌM EM THEO SƠ ĐỒ CỦA NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN VĂN NHÃ

 

Giáo sư Trần Phương - Nguyễn phó thủ tướng Chính phủ, hiệu trưởng trường Đại Học kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội, có một người em gái, sinh năm 1929, tên là Vũ Thị Kính. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ những năm 16 tuổi, cô Kính đã đi tham gia kháng chiến, trở thành một nữ giao liên gan dạ, với bí danh Trần Thị Khang. Năm 1950, cô trở thành Huyện ủy viên Đảng bộ Phú Cừ, Bí thư Hội phụ nữ cứu quốc huyện, người tổ chức và chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân nổi tiếng. Tháng 6 – 1950, giặc bắt được cô, đưa về bốt La Tiến, một đồn binh lớn án ngữ phía nam tĩnh Hưng Yên, phía bắc tĩnh Thái Bình và phía tây tĩnh Hải Dương. Tại đây, giặc đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất, nhưng người nữ du kích đã kiên trung ấy vẫn không hề hé nữa lời. Tức giận, giặc đã cắt cổ cô rồi vứt xác xuống sông Luộc. Sau cái chết anh hùng ấy của cô, đội nữ du kích Hoàng Ngân đã phát động “Tuần lễ giết giặc, trả thu cho chị Khang”

 

Mặc dầu huyện ủy và đội nữ du kích Hoàng Ngân đã đi khắp các bến đục dòng trong nhưng mong tìm xác cô mà không thấy. Thương con, người mẹ già khóc mờ cả mắt. Suốt mấy chục năm ròng, thỉnh thoảng, mẹ lại ngước đôi mắt đục mờ như cùi nhãn khô về phía giáo sư Phương hỏi bằng giọng tủi hờn xót xa: “Có tìm thấy xác em không hả con ?”. “Bao giờ hết chiến tranh, con sẻ đi tìm. Chắc là thấy mẹ ạ !”. Miệng thì trả lời mẹ thế mà họng thì thấy nghẹn đắng. Cả một dòng sông Luộc mang mang, cuồn cuộn sóng trôi ra biển cả, biết tìm em nơi nào ?

 

Mẹ mất. Tin tức về phần mộ em vẫn biền biệt phương trời. Giáo sư Phương lúc nào cũng sống trong cảm giác day dứt, đau xót, không yên. Năm 1989, khi đó, giáo sư  Phương đang làm Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược phát triển, có xuống công tác tại Sở kinh tế đối ngoại ( cũ) Quảng Ninh. Nghe anh em dưới đó đồn rằng, cách Bãi Cháy, về Hà Nội 20 km, có một cô công nhân, trước vốn bị tai nạn lao động, nay có khả năng ngoại cảm đặc biệt: biết quá khứ, dự báo tương lai, phán đúng như thần. Anh em trong cơ quan, ai có việc gì hệ trọng đều đến đó nhờ cô xem dùm. Họ khuyên giáo sư Phương nên đến đó xem một lần. Bán tính bán nghi, giáo sư Phương tìm đến. Nhà ngoại cảm là một người phụ nữ xanh xao, gầy yếu nằm bệt trên chiếc phản kê gần cửa sổ. Vừa nhìn thấy giáo sư Phương, cô đã nói, giọng yếu ớt: “ Ghế có một người anh chết trẻ, chết trong lửa”. Giáo sư Phương giật thót mình. Năm 1951, người anh ruột của ông là Vũ Sơn, trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn 320, hy sinh trong trận đánh ở Hà Nam Ninh. Quả bom Na – pan rơi đúng hầm chỉ huy. Anh sơn cùng một số đồng chí khác bị chết cháy. Chưa kịp trấn tĩnh, giáo sư Phương lại rụng rời khi nghe nhà ngoại cảm phán tiếp: “ Ghế còn có một người em gái chết trẻ. Hài cốt vẫn còn nhưng vì ghế không tin nên không đi tìm”. Nhà ngoại cảm còn phán rất nhiều về cuộc đời, sự nghiệp, thân thế của giáo sư Phương khiến ông hoang mang: Có lẽ mình phải đi tìm manh mối thế nào đây ? Tại sao có người lại biết nhiều về mình như thế ?

 

Sau đó, về Hà Nội, ông nghe tin nhiều người tìm được mộ người thân bằng gọi hồn, ông nghe tin nhiều người tìm được  với những tình tiết hết sức ly kỳ, huyền bí khiến ông càng hoang mang. Trong ông, chợt lóe lên một niềm hi vọng mong mạnh: Biết đâu đấy. Nếu bằng phương pháp thần bí mà tìm được mộ em gái mình thì có gì phải câu nệ ? Sông ông lại chột dạ: lấy cái gì để xác nhận đó là hài cốt của em Khang sau 50 năm trôi dạt ? Hàm răng trắng, không nhuộn đen ư ? Thời đó, thiếu gì con gái không nhuộm răng ? Đã có lần bạn bè mách bảo ông một bộ hài cốt vô thừa nhận có đặc biệt là răng trắng. Lúc đó ông đã đấu tranh tư tưởng nhận hay không nhận ? Nhận một bộ hài cốt mà lòng nghi hoặc mỗi khi tưởng niệm thì còn có ý nghĩa gì ? Còn khám nghiệm AND ư ? Quá xa vời. Song trong tình cảnh chính mình và cả khoa học thực nghiệm bị bất lực thì việc phải nhừ đến tâm linh huyền bí để giải tỏa nỗi đau tâm thế ám ảnh bao năm là việc nên làm. Nghĩ thế, ông bèn tìm cách tiếp cận các nhà ngoại cảm có tiếng tăm.

 

Chi Tuyết Nga bạn của ông, người đã nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ( Tứ Kỳ, Hải Dương ) tìm được mộ người mẹ thân yêu bị giặc sát hại từ những năm 1960, khuyên ông nên nhờ anh Liên.  Nghe lời, chú Quỳnh,  em ruột của ông, ăn chực nằm chờ tại nhà anh Liên hơn một tháng trời, cuối cùng được anh vẻ cho một tấm sơ đồ phần mộ. Nhưng sơ đồ lại ghi mộ cô Khang nằm ở huyện Khoái Châu ( Hưng Yên ) cách bến đò La Tiến đến mấy chục cây về hướng thượng lưu. Không thuyết phục. Đành tự an ủi rằng: chú em út chưa đủ thân thiết với cô chị nên thông tin chưa được chính xác. Cuối cùng, đích thân giáo sư Tràn Phương tìm đến cậy nhờ anh Liên. Nhưng chờ cho đến đỏ mắt vẫn không thấy nhà ngoại cảm mách bảo gì. Thương ông chi Tuyết Nga bảo: “ Em có người bạn là anh Nguyễn Văn Nhã, một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở TP.HCM. Anh Nhã đã vẻ được hơn 600 ngôi mộ, tỷ lệ trúng đạt trên 60%. Để em điện thoại nhờ anh ấy xem sao”.

 

Sáng sớm ngày 25 – 7- 1999, anh Nhã có mặt tại Hà Nội. Trong phòng làm việc của giáo sư Trần Phương, không có hương khói gì, sau khi hỏi vợ chồng giáo sư một số thông tin về cô Khang như tên tuổi, ngày tháng năm sinh, năm mất, bến đò La Tiên thuộc xã nào ? Huyện Phú Cừ thuộc tĩnh nào ? Bến đò ấy có cây cầu nào không ? … (Điều đó chứng tỏ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã không biết gì về vùng đất này ), anh Nhã bèn lấy một tờ giấy trắng khổ lớn và mấy cây bút màu ra vẻ. Anh vẻ một cách thư thả, lưu loát. Dưới ngòi bút của anh, thấy hiện lên một con sông uốn lượn, đường to, đường nhỏ giao nhau. Rồi anh ghi chú rõ ràng, rành mạch: Từ bến đò La Tiến đi về hướng Đông Nam thấy một trường học. Đi chừng 1,6 km thì đến 1 ngã tư. Phía phải ngã tư có một cửa hàng tạp hóa màu xanh dương. Rẽ tay phải thấy một  cái đình. Đi tiếp 1 km hãy rẽ trái vào một con đường nhỏ. Cách đó 45 m là phần mộ cô Khang. Ngôi mộ nằm trên đất cô Nhường. Đối diện với mộ là quán ông An. Mộ chôn đầu về hướng Tây, cách đó 4 m có một góc cây đổ. Trên mộ có một khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu Tím nhạt…

 

Vẻ chừng 10 phút thì xong. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã ngẩng mặt lên hỏi giáo sư Phương: Bao giờ thì bác đi tìm mộ ?” Giáo sư Phương trả lời: “ Khoảng 3 ngày nữa” Anh Nhã bảo: “Tôi cho anh một tín hiệu để tìm. Ngẫm ngợi giây lát, anh Nhã bảo: “ Vậy thì một bé gái nhé”. Nói đoạn, anh cắm cúi ghi tiếp vào tấm bản đồ: 13h 30’ ngày 28 – 7, sẻ có một bé gái chừng 11 tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ. Rồi anh dặn: “ Nếu bác đến sớm thì 5 cây cỏ dại có 10 bông hoa tím. Nếu đến muộn thì chỉ còn 5 bông” Quá đỗi ngạc nhiên, giáo sư Phương hỏi: “Anh không biết tí gì về vùng đất đó, vậy dựa vào cái gì mà anh vẽ được tấm bản đồ chi tiết này ?”. Anh nhã lắc đầu cười xòa: “ Tôi củng chẳng biết nữa. Cú thấy trng đầu hiện lên thế nào thì vẻ ra thế ấy”. Giáo sư Phương lại hỏi: “Thế còn những cái tên: “Đất cô Nhường quán ông An ?”. Anh Nhã: “Tai tôi bỗng nghe thấy những âm thanh ấy. Có thể là Nhương hay Nhường, An hay Am gì đấy”. Trao tấm bản đồ cho giáo sư Phương, anh Nhã vội vã ra sân bay, vào thành phố Hồ Chí Minh. Còn giáo sư Phương cứ đứng ngẩn người, chẳng hiểu ra làm sao. Song tin hay không tin thì vẫn cứ phải làm theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm. Bởi còn cách nào khác nữa đâu.

 

NGÀY TÌM MỘT THỨ NHẤT: QUÁN BÀ NHỜ, CÔ BÉ MẶC ÁO XANH.

 

Đúng hẹn, ngày 28 – 7, cả gia đình giáo sư Trần Phương tìm đường về La Tiến, cách Hà Nội chừng 100km. Đoàn chia làm nhiều  ngả, đối chiếu với bản đồ mà tìm. Có một lối hướng thẳng vào giữa làng La Tiến là trùng khớp với bản đồ. Có điều, đường từ bến đò đến nơi ghi là phần mộ lại rất ngắn, chỉ bằng 1/3 cự ly trong bản đồ. Băng khoăn, giáo sư Phương bèn điện thoại hỏi anh Nhã. Từ TP.HCM, anh Nhã bảo: “Cự ly đó tôi ước lượng nên có thể  không chính xác, Miên là tìm thấy các dấu hiệu đã ghi, nhất là 4 tín hiệu nơi phần mộ”

 

Cả nhà hướng mắt ra bốn phía quan sát kỹ lưởng, rồi săm soi đối chiếu vơi bản đồ. Lần theo chỉ dẫn và các tín hiệu trên đường: trường học, đình làng, quán tạo hóa màu xanh dương…, ( tất cả đều trùng khớp với những tín hiệu anh Nhã cho trước ), đoàn tiến đến đất nhà ông Điển, một anh nong dân kiêm thợ nề. Hai vợ chồng chỉ đoàn ra dải đất phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ ( một khúc  cua của con sông Luộc, nơi xác chết thường bị cuốn vào, quạ đến ăn nhiều nên dân làng gọi là vụng Quạ ), cách nhà ông chừng nữa cây số, nơi đó có 3 ngôi mộ vô thừa nhận. Mọi người sướng rợn nhưng khi đến xem xét kỹ lại không thấy một dấu hiệu nào như anh Nhã cho nên đành quay về nhà ông Điển.

 

Đứng trước cửa nhà, nhìn về chân đê sông Luộc, chếch về phía tây ngôi nhà anh An. Nhà xây bằng gạch nhưng để ở chứ khồn bày biện bán hàng gì. Anh An cho biết: vợ anh có một gian hàng bán lòng lợn ở chợ La Tiến, sáng sớm gánh àng ra bán song nếu ai cần mua tại nhà thì chị củng bán. Như vậy cũng có thể tạm coi là quán hàng được.

 

Còn đất bà Nhường ? Hỏi thăm cả làn chẳng ai có tên như vậy. Chỉ có một bà lão tên Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà vốn trước đó cũng là một nữ du kích, hoạt động cách mạng cùng cô Khang. Cách đó mấy năm, bà có nhắn giáo sư Trần Phương về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận. Bộ hài cốt có răng màu trắng, giống hàm răng cô Khang nên bà cho là hài cốt của người đồng đội mình.

 

Như vậy những dấu hiệu tìm đến ngôi mộ đã tìm thấy nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ thì chưa. Đành chờ đến 13h 30’.  Giữa trưa hè trời nắng hầm hập như đổ lửa, đoàn vẫn chia làm mấy nhóm đoán lõng ở các ngã đường dẫn đến nhà ông Điển. 10 phút. Rồi 15 phút ngột thở trôi qua. Bỗng một tốp học sinh ào ào đạp xe từ cuối làng tới. Mọi người liền dữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngã tư, sau cái đình làng. Ba em săn sái dẫn ông Quỳnh, em ruột giáo sư Phương tới đó, còn một em đứng lại. Giáo sư Phương giật mình. Em gái ấy mặc áo xanh lá cây, có hai bong hoa to in trước ngực. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy mấy ngôi ở vườn chùa ngay cạnh chổ đứng. Giáo sư Phương biết, đó là ngôi mộ của những người chết đói năm 1945. Em lại chỉ 3 ngôi phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ, nơi mà đoàn đã ra tìm từ sáng. Hỏi thêm ame một số chuyện nữa những cũng không thu thêm được thông tin quan trọng gì. Đến xế chiều, gần như mất phương hướng, giáo sư Phương lại gọi điện cho anh Nhã. Anh hỏi: “ Có thấy lạch nước không ? Có cái cống không ? Anh Nhã hỏi cứ y như anh đang nhìn thấy vậy. Rồi anh bảo: “ Bác hãy đi tìm ngôi nhà mà bốn mặt đều sơn màu trắng, phía trước đầy hoa đỏ”.

 

Cái cổng lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, sế nhà ông Điển, chính là nơi giáo sư vừa ngồi nói chuyện với bé gái mặc áo hoa màu tím. Còn lạch nước ? Hỏi ông Điển, hồi lâu ông mới sực nhớ ra: Ba mươi năm về trước, chính cái đầm Sen là một vùng ruộng trũng. Bờ ruộng chạy song song với một con lạch dẫn nước  qua cống cửa chùa vào ruộng mạ mà nay là đất ở của ông và mấy nhà xung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con đê sông Luộc, người ta đã biến vùng ruộng trũng thành đầm sen bây giờ. Bờ ruộng và cái lạch nước củng biến mất trong lòng cái đầm sen ấy.

 

Mọi người ngó nghiêng khắp làng để tìm ngôi nhà tứ bề quét vôi màu trắng mà chẳng thấy. Chỉ thấy nhà màu vàng hoặc xám. Bỗng ông Tân Cương , một cộng sự của giáo sư Phươn chỉ vào quán nước nhỏ, thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và cái chõng, trên bày bán mấy gói keo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây cả 4 mặt đều quét vôi trắng xóa. Ông Tân Cương lý luận: “ Một cái quán cũng có thể coi là nhà được lắm chứ” Vậy còn hoa đỏ ? Đảo mắt một vòng, anh Tân Cương reo khẽ. Nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía đầm sen,  mọi người sờ sững. Cả một biển hoa sen hồng thắm giữa trưa hè. Hương đưa ngào ngạt.

 

Chủ quán là một bà lão hom hem. Cụ cho biết tên là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi. Mọi người sục sao đến tối mịt mà chẳng thấy thêm tín hiệu gì đành quay về Hà Nội. Gọi điện cho anh Nhã, anh chấn an: Tìm được cái quán trắng làm móc là tốt rồi. Bác nên tìm tiếp tục. Hôm nay chưa thấy thì ngày mai lại đi. Tìm mộ là cả một hành trình đầy vất vả, không thể một lần mà trúng ngay được”. Rồi anh chỉ dẫn tiếp: “8h sáng mai bác phải có mặt ở cái quán quét vôi màu trắng ấy. Bác hoặc con bác thắp 20 nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8h 30’, có một con chó vàng nâu đứng cạnh đó chừng 10m. Nó nhìn bác một lát rồi đi. Thỉnh thoảng nó ngoái đầu lại xem bác có đi theo nó không. Bác cứ đi theo và giữ khoảng cách. Đi chừng hơn 100m con chó sẻ dừng lại, hít đất rồi bới. Bác hãy nhớ lấy chổ đó, quan sát kỹ, tìm những dấu hiệu như đã ghi trên phần mộ như đã ghi trong bản đồ” Ngừng một lát rồi anh Nhã dặn tiếp: “Nếu không thấy con chó xuất hiện thì chờ đến 9h, tìm kiếm quanh vùng sẻ thấy một con chó vàng năm bệt như ốm. Đánh dấu lấy chổ ấy mà đào. Đào thấy thì con chó sẻ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu thì điện thoại lại. Tôi sẻ chỉ dẫn tiếp.

 

NGÀY THỨ 2 TÌM MỘ: CON CHÓ NẰM BẸP NHƯ ỐM - QUẢ TRỨNG TRÊN ĐẦU ĐŨA

 

Sáng sớm hôm sau, đoàn lại lục tung quay trở lại La Tiến. Việc đầu tiên là chia ra làm nhiều tốp, đứng ở các ngã xem có con chó vàng nào nâu nào tiến về phía quán nước quét vôi trắng không ? Chờ đến gần 9h vẫn chưa thấy tín hiệu gì. Đành chuyển sang phương án 2: tìm con chó vàng nằm bệt như ốm. Mọi người sục sạo vào từng nhà quanh vùng. Ở đây, nhà nào củng nuôi chó vàng, thấy khách lạ, chúng nhảy sổ ra sủa inh ỏi, chẳng thấy một con nào nằm bệt một chổ. Cô Nam (em ruột cô Khang ) mấy lần vào ra nhà cụ nhờ, ngó ngó nghiêng khắp xó xỉnh, bỗng phát hiện thấy phía sâu bên trong gian nhà phụ, dưới gầm giường, có một con chó vàng nằm ệp. Mọi người lần lượt vào xem nó vẫn nằm im thít như cục bông, chẳng gầm gừ hay sủa. Hỏi cụ Nhờ, cụ chép miệng bảo: nó chửa, chê cơm mấy hôm nay rồi. GS Phương liền điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã. Anh chỉ dẫn: Tìm kiếm trong bán kính 10m xem có những dấu hiệu trên phần mộ  (cách mộ 4m có một gốc cây đổ, trên mộ có khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt)  không ?

 

Từ chổ con chó nằm ệp, GS Phương ke một vòng tròn có bán kính 10m. Phần lớn vòng bao ấy gần sân gạch và nhà cụ Nhờ, chỉ một phần nhỏ lấn sang khoảnh vườn hẹp trước tường hoa nhà ông Điển. Khoảnh vườn này, hôm trước đoàn đã đi qua mà không ai để ý đến mấy vạt rau lang. Cả nhà dán mắt xuống đất tìm. Anh Tân Cương bỗng phát hiện ra một một gốc cây đỗ bị vùi lấp dưới lớp dây lang, gốc cây to bằng bắp chân, dài hơn gang tay. Trên thân lơ thư mấy cói chồi cằn cỗi. Ông Điển bảo đó đó là cây nhót ông chặt năm ngoái nhưng chưa kịp đánh góc. Tiếp tục tìm kiếm, thấy cách góc cây nhót về hướng đông chừng 2m, có nữa viên gạch vở màu nâu đỏ nằm cạnh một cành cây khô to bằng cổ tay, dài nữa mét. Nhìn tiếp về hướng đông chừng 3m nữa dưới tán cây cam thấp lùn, cả đoàn reo lên khi trước mặt hiện lên một dãy hoa màu tím nhạt bung lên khỏi đám rau lang. GS Phương tỉ mẫm đếm được đúng 5 gốc, mỗi gốc nở 2 bông hoa to và dài bằng ngón tay.

 

Sau khi rà soát lại kỹ càng, GS Phương lại điện cho anh Nhã. Anh Nhã bảo: “Từ gốc cây đổ đến dãy hoa tím, vẻ một hình tam giác. Bác hãy đứng vào giữa rồi đánh dấu lại. Lấy một chiếc đũa cắm xuống chổ đó. Chính tay bác hoặc người khác nhưng phải cùng máu mủ với cô Khang, sau đó đặt một quả trứng lên đĩnh chiếc đũa. Nếu quả trứng nằm vững trên đầu đũa là đúng. Nếu không nằm im thì cắm chiếc đũa lùi ra nữa mét.

 

Bà Điển lập cập chạy vào bếp rút từ ống đũa rút ra một chiếc rồi chạy ra chuồng gà nhặt một quả trứng trong ổ, quả trứng vừa mới đẻ đưa cho GS Phương. Ngồi ngắm nghía chiếc đũa tre khẳng khiu, tay vân vê quả trứng gà, GS Phương chột dạ: Tay Nhã đánh đố mình đây. Song lại tự chấn an: Vấn đề là ở chổ phải ngắm cho thật cân và không được xúc động. Hít một hơi thật sâu, GS Phương rón rén đặt quả trứng lên đầu chiếc đũa. Gần trăm con mắt dán vào quả trứng gà như nín thở. Bịch ! Quả trứng rơi xuống đất. Nhặt lên, khẻ khàng đặt lại. Lần 2 lần 3…Đặt nằm rồi đặt đứng.  Quả trứng vẫn lăn bo lo xuống đất. GS Phương ngồi bệt xuống đất, thở hắt ra. “Chỉ tại cái đũa chết tiệt. Tiết diện quá nhỏ mà lại không phẳng thì tài thánh củng chẳng đặt được quả trứng tròn cho cân.

 

Nghĩ vậy nhưng GS đứng dậy lùi nữa mét, mặt vẫn hướng vào tường hoa. Cắm chiếc đũa cho thật thẳng, rồi nhẹ nhàng đặt quả trứng lên. Mọi người vội chìa tay ra hứng sợ quả trứng rơi vở. Ô kìa ! Kỳ lạ quá ! Quả trứng nằm im trên đầu đũa tự như có chất keo kết dính. Mặc dầu không tin vào sự can thiệp của cô Khang ( Vì làm gì có linh hồn mà can thiệp ? Mà nếu có thì linh hồn đâu phải là lực hút vật chất – GS Phương nghĩ thế ) nhưng GS Phương vẫn thở phào nhẹ nhõm vì nếu không làm được điều này sẻ không thể đi tiếp bước sau. Lại gọi điện cho anh Nhã cầu cứu, anh bảo: “Lấy quả trứng làm tâm vẻ một hình chữ nhật dài 2m rộng 1,2m rồi đào sâu xuống 1,5m cho đến lớp cát đen, hài cốt sẻ ở đó”.

 

Mặt trời đã lên đến đĩnh đầu, Vừa đói, vừa mệt, GS Phương quyết định tạm nghỉ, ra bến đò La Tiến ăn cơm. Trời đang nắng gắt bổng đâu mây đen ùn ùn kéo tới,  gió ào ào thổi cuốn bụi mịt mù. Mưa như trút nước. Mưa kéo dài lê thê. Chừng hơn một tiếng mới tạnh. Mọi người vội vả kéo về nhà ông Điển. Anh Tân Cương bảo: “Phen này phải đền quả trứng của bà Điển là cái chắc”. Thế nhưng khi bước ra vườn, tất cả đều sững sờ khi thấy quả trứng vẫn nằm chon von trên đầu đũa bé xíu. Chẳng nhẽ khi mưa , lúc nào củng có 2 giọt nước rơi cân bằng xuống 2 đầu quả trứng à ? Lại còn gió tó nữa chứ ? Bụi tre bờ  sông gió vặn còn nghiêng ngã cơ mà ? Có điều gì huyền bí đây ?

 

GS Phương từ từ gỡ quả trứng ra khỏi chiếc đũa để cho tốp thợ đào đất. Hai bàn tay ông cảm nhận rõ một sức hút nhẹ như có bàn tay vô hình cố giữ quả trứng. Hai tốp thợ thay nhàu đào. Đầu tiên là lớp đất màu nâu. Sâu chừng 1,2m thì đến lớp bùn đen pha cát. GS Phương nhắc nhở mọi người rà soát từng xẻng cát xem có lẫn  xương cốt không ? Nhưng đào mãi đến độ sâu 1,5m thì vẫn không thấy gì. Anh Nhã hướng dẫn qua điện thoại, phát triển về hướng nam, đào sâu thêm 4cm nữa. Hố đào lập tức được mở rộng thêm nữa mét ra phía bờ ao. Chiều sâu đến 2,8m mà vẫn không có tín hiệu gì. Trời sập tối. Mọi người buộc phải ngừng tay. Nỗi buồn xen lẫn thất vọng thể hiện rõ trên khuôn mặt già nua của GS Phương. Tuy vậy ông vẫn quyết định ngày mai đào tiếp.

 

 

 

NGÀY THỨ 3 TÌM MỘ: SOÁT ĐỐNG CÁT ĐEN, THU DỌN CHIẾN TRƯỜNG.

 

Suốt hai ngày trời, thức dậy từ 4h sáng, mướt mãi đi tìm kiếm, đào bới đến 11h đêm mới về đến nhà, cái tuổi 72 của GS đã cảm thấy đuối sức. Niềm tin củng giảm sút. Sáng ngày thứ 3, GS ủy nhiệm cho các con, cháu, người chị ruột và anh Tân Cương đi tiếp. Ông dặn: “ Không đào sâu thêm nữa, chỉ soát lại đống đất cát đen đào xới lên hôm qua, họa may nhặt được mẫu xương nào thì đem về. Nếu không thì thu dọn chiến trường.”

 

Mọi người thực hiện đúng như lời dặn, hì hục bới tìm gần hết buổi sáng chẳng thấy gì. Nhiều cụ già trong làng đến xem, xúm lại bài bác: “Đã bảo mà ! Tìm ngoài đê, quanh cái vũng Quạ thì không, lại cứ cắm đầu tìm ở trong đê. Làm gì có xác nào trôi sông mà lại vượt qua được con đê để tận vào được trong đồng”. Đúng lúc ấy, anh  Thìn, hiệu trưởng trường trung học cơ sỡ La Tiến đến xem kể: Hồi trước bố anh làm nghề đơm đó, đánh dậm, có vớt được 3 cái xác 2 nam 1 nữ trôi dạt vào vũng Quạ. Ông đã kéo qua đê rồi chôn ở cánh đồng này. Bố anh rất nghèo nhưng bạo gan. Trong làng, trong làng nhà ai có việc đào huyệt hay bốc mộ, đều đến nhờ cụ. Cả những cháu bé bị chết đuối, xác trương lên, cụ sẵn sàng vác lên vai chôn giúp. Hồi kháng chiến chống Pháp, có nhiều xác chết nổi lên ở vũng Quạ, làng giao hết cho cụ vớt lên chôn cất. Sau này, cụ còn được chính phủ tặng bằng khen vì những thành tích trong kháng chiến chống Pháp. Chỉ tiếc, cụ đã mất 18 năm rồi.

 

Lại lóe lên những tia hi vọng. GS Phương vội điện cho anh Nhã. Từ Sài Gòn, anh bảo: “Biết gia đình tìm được đầy đủ các tín hiệu, tôi mừng lắm tuy cự ly có phần không đúng. Có điều, bây giờ phải lật lại cái bản đồ xem từ âm bản”. GS Phương ngạc nhiên hỏi: “Nhưng vậy có nghĩa là phần mộ cô khang sẻ năm ở bên kia sông, vậy có nghĩa phần mộ cô Khang sẽ nằm ở bên kia sông,  tứ là trên đất Thái Bình à ?”. Anh Nhã gật đầu: “Đúng thế”. Rồi anh dặn: Phải tìm đến một cái vụng xoáy dọc bờ sông. Ở đó có một xóm dân cư mới, ra lập nghiệp được khoảng 20 năm. Trong đó có cô Nhường ông An. Mộ cô Khang nằm trên đất cô Nhương. Trên mộ cô vẫn đầy đủ những dấu hiệu như đã chỉ”.

 

 

NGÀY THỨ TƯ TÌM MỘ: VÔ VỌNG – NGHI NGỜ “CÁI TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI”

 

Hầu hết các thành viên trong gia đình GS Phương, vốn đã không tin vào chuyện tâm linh thần bí, nay thấy sự việc đi vào bế tắc, đều không muốn đi nữa. Bản thân GS thì mệt mỏi rã rời. Chỉ có anh Tấn Cương là vẫn vững lòng tin vì chính anh đã nhờ các nhà ngoài cảm mà tìm được mồ mã tổ tiên. Ngày hôm sau, anh cùng anh Đạt vượt bến đò La Tiến sang đất Thái Bình. Anh cứ dọc bờ sông Luộc mà đi, những mong tìm được cái vũng xoáy. Đi mãi. Đi cho tới khi xế chiều, anh bắt gặp một cụ già râu tóc bạc phơ. Cụ bảo: “Phía Thái Bình không có cái vụng xoáy nào đâu. Vì con sông đến đoạn này thì quật sang đất Hưng Yên”. Nói rồi cụ chỉ sang vụng bà Khán Mỹ bên kia sông. ( Gọi thế vì bà Khán Mỹ đã nhiều năm sinh sống trên vũng đó bằng thuyền đánh cá ). Vậy là lại phải qua sông để về đất Hưng Yên. Cạnh vụng bà Khán Mỹ, trên đất bãi, có một xóm mới. Ở đó, có một chị tên Nhường và một anh tên An. Có mấy ngôi mộ vô thừa nhận. Những tìm kiếm mãi vẫn chẳng thấy tín hiệu nào trùng khớp với bản đồ của anh Nhã.

 

Không nãn, anh Tân Cương đi tiếp một ngày nữa. Từ vụng bà Khan Mỹ, anh đi ngược lên vụng Quạ. Nơi nào có mộ vô thừa nhận là anh đến. Nhưng càng đi tìm càng tuyệt vọng. Cuộc tìm kiếm theo đủ mọi hướng  đến đây coi như lâm vào ngõ cụt. Cái tính hoài nghi khoa học vốn có trong con người GS Phương giờ “nổi loạn”. Ông nghĩ: Lão Nhã này,  hắn đày ải, đánh đố mình đây. Hắn bày ra một trận đồ bát quái, nào là dấu hiệu, tín hiệu, tên người, tên đất… rồi bảo mình phải đi tìm cho đủ.  Lục tìm cả cái đất nước này, chưa chắc đã có nơi nào khớp được. Nghĩ thế nhưng ông lại tự trách mình là vô lý. Đã chấp nhận đi theo thầy Nhã mà tỷ lệ  trúng mộ chỉ đạt 60% thì hà cớ gì, trường hợp của mình lại rơi vào 40% kia ? Đã xác định tìm đến con đường thần bí như nguồn hy vọng mỏng manh cuối cùng thì lý gì lại đòi hỏi phải lý giải ngọn nguồn cái trận đồ bát quái ấy ?

 

Theo đuổi đến tận cùng hai nhà ngoại cảm nổi tiếng đã vẻ trúng hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ nhưng đến lượt mình thì không có “duyên” GS Phương bèn bàn với anh Tân Cương chỉ còn cách là tìm đến những người có khả năng gọi hồn. Chị Tuyết Nga cũng ủng hộ cách làm ấy. Chị đưa cho GS địa chỉ, điện thoại của một nhà ngoại cảm nỗi tiếng khác. Điều tra ra thì đó chính là điện thoại của Phan Thị Bích Hằng. Chị nhận lời giúp GS vào chiều ngày 09 -08 – 1999 tại nhà riêng của ông. Cuộc gọi hồn kéo dài gần hai tiếng đồng hồ với nhiều chi tiết vừa xác thực, vừa ly kỳ, xúc động cùng rất nhiều nước mắt đã hé ra một cách tìm mới về mộ cô Khang và điều đặc biệt nhất là xé toang nổi nghi ngờ như làn sương bao phủ trong đầu vị GS “vô thần” Trần Phương.

 

(cô Khang)

 

TRÒ CHUYỆN VỚI … LINH HỒN

 

Cuộc trò chuyện với linh hồn cô Khang trong buổi chiều ngày 09-08-1999 ấy, cho đến tận bây giờ, vẫn là nổi ám ảnh lớn trong tâm trí của GS Phương. Bởi đó không chỉ là cuộc hội ngộ đầy nước mắt giữa những người thân sau mấy mươi năm sinh ly tử biệt mà đó thực sự là bước ngoặt lớn trong nhận thức của GS về thế giới tâm linh, thế giới của những linh hồn. GS vẫn còn nhớ rất rõ, trong lúc nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đang lụi cụi sắp đặt một cốc nước, một cốc gạo, nến, tiền vàng và bức ảnh của cô Khang lên bàn thì GS cố lục tìm trong trí nhớ những vụ việc rất bí mật mà chỉ GS và cô Khang biết để kiểm tra xem có đúng là linh hồn người em gái đang trò chuyện với ông không ? Và điều quan trọng hơn, có thật là linh hồn còn tồn tại sau khi con người đã chết ?  Cảnh giác, GS còn dặn cả nhà tham dự buổi gọi hồn phải tĩnh táo, không được nói hớ, để lộ thông tin cho “thầy bói nói dựa”

 

Thắp hương và đốt nến xong, Bích Hằng thành kính chắp tay trước ngực, khấn mời cô Khang bằng một giọng nhỏ nhẹ rồi quay sang nói với GS Phương: “Ở căn phòng này bác không thờ cúng bao giờ, có thể vong linh cô Khang sẽ khó về”. Nghe vậy giáo sư đâm hoang mang quá. Đúng là ở căn nhà này, GS chưa thờ cúng ai bao giờ,  thậm chí 10 năm này, ông không ở đây vì đã bàn giao cho con. GS đảo mắt nhìn quanh, thấy bốn bề cửa kính đóng kín mịt, máy điều hòa chạy mát lạnh. Mùi hương không lọt ra ngoài thì cô Khang làm sao nhận biết được ? Cả tiếng khấn nghe nhẹ như gió thoảng của Bích Hằng nữa ? Cô có nghe thấy không ?  Mà có nghe thấy thì làm sao tìm được địa chỉ này giữa lòng thành phố ồn ào chin chít nhà cửa ? Và lách qua kẻ hở nào mà vào ?

 

GS bỗng thấy ngột ngạt căng thẳng quá. Bên cạnh, Bích Hằng vẫn chăm chắm nhìn tấm ảnh cô Khang. Một phút chờ đợi chậm chạp trôi. Hai phút…rồi 3 phút. Chợt Bích Hằng reo khẽ: Cháu chào cô ạ ! Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Trần Phương có nhờ cháu mời cô về để hơi xem hài cốt cô hiện ở đâu ạ ? Nói đoạn, Bích Hằng vội quay sang GS Phương, hạ giọng nói: “Cháu nhìn thấy một thanh niên đi cùng với cô Khang”. Tim GS Phương đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Ông cố đoán xem người đàn ông ấy là ai trong khi Bích Hằng vẫn chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại “Vâng !” À thế à…cô  Ngân hay cái gì ngân à ?... Một lúc sau, Bích Hằng quay sang GS Phương, nói: Cô Khang bảo:  Người thanh niên đi cùng em chính là anh Sơn đấy.  Anh ấy vẫn thường xuyên đến thăm em”. GS Phương giật mình. Ôi ! Anh Sơn, người anh ruột hơn GS Phương 4 tuổi nhưng cũng là người bạn, người đồng chí thân thiết. Anh từng là ủy viên thựng vụ tĩnh Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông ( cũ) Rồi khi thành lập Đại đoàn 320, anh được điều làm Trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn. Anh hy sinh trong chiến dịch Hà Nam Minh tháng 6 – 1951. GS Phương muốn reo lên,  gọi thật to tên anh. Nhưng sực nhớ Bích Hằng ngồi cạnh, ông cố kìm cảm xúc lại, chờ xem.

 

Bích Hằng nói tiếp: “Anh không có duyên rồi” Đi tìm em, đối mặt với em rồi mà không đến được với em. Từ hôm anh đến, mấy chị em trong đội du kích Hoàng Ngân cứ bảo: sao lâu quá không thấy anh Phương trở lại. Chỗ em năm chỉ cách chổ anh đào 3 sải chân ra phía bờ ao thôi’. GS Phương vội ngắt lời: “Vậy em nằm trên vườn hay dưới ao ?. Cô Khang bảo: “Đến bờ ao cũng còn 3 bước chân nữa.  Phí trên em chừng 2m là chị Nguyễn Thị Bê, đội viên đội du kích Hoàng Ngân, quê ở ngay làng La tiến.  Củng cách chừng 2m về phía đông là một người đàn ông, bị bắt từ Hải Dương về, em không biết tên.  Hai người bị giết cùng một ngày với em. Chúng cột tay chúng em lại rồi vất xác xuống sông vào nữa đêm. Dân phòng ta có đi tìm nhưng không thấy.  Mãi mấy ngày sau, xác mới nổi lên. Dân vớt được, đưa về đây chôn nên 3 mộ gần sát nhau, gần như nằm trên một đường thẳng. Xa hơn còn mấy người nữa. Chổ này cả thảy 7 người cơ. GS Phương hỏi : “ Chôn em có quan tài không ?”  Cô Khang cười buồn: “Mấy người nổi trên lên trước thì dân còn cho được mãnh chiếu mà bó. Còn nổi lên sau thì đến mảnh chiếu cũng không có, nói gì đến quan tài”

 

Qua Bích Hằng, cô Khang chỉ dẫn tỉ mỉ chổ cô nằm với các đặc điểm về cây cỏ xung quanh. GS Phương nhận ra ngay vì đó là cây nhãn giáp với nhà bà Nhờ, bữa trước ông đã ngồi ở đó để theo dõi việc đào mộ. GS Phương hỏi: “Em có biết chổ em nằm thuộc về đất của ai không ?” Cô Khang đáp: Em cũng không biết nữa. Địch đánh gãy xương sườn, gãy xương cánh tay và xương đòn tay bên phải, gãy hai chiếc răng nanh ở hàm trên bên phải, dập gò má bên trái. Xương cốt hiện nay vẫn còn nhưng đã mủn vì chôn có quan tài đâu nên khi đào, anh phải cẩn thận, chỉ cần xúc một xẻng đất là nó vở ra ngay. Anh chú ý ở tay em vẫn còn cái cồng bằng sắt. Địch khóa tay em vào tay người đàn ông bị bắt ở Hải Dương bằng cái cồng ấy. Hàm răng dưới đã rụng ra nhưng rất may, hàm răng trên vẫn còn nguyên vẹn. Ở đấy có mấy anh chị, nếu anh có đào nhầm sang mộ người khác thì vẫn có thể nhận ra ngay. Ngày xưa, mọi người hay trêu đùa em là có hàm răng đẹp nhất, trắng nhất, tươi tắn nhất đội du kích. Nhưng bây giờ răng em đã chuyển sang màu đen rồi, đen xỉn ấy do bùn đất lâu năm ngấm vào chứ không phải đen hạt na đâu”.  Một niềm xót thương chợt trào dâng khiến nước mắt GS Phương lưng tròng. Mặc dù chỉ nói một cách kín đáo nhưng ông nhận ra ngay vẻ đẹp mặn mòi rất đặc trưng của em Khang. Ôi ! Người con gái đã lìa đời hơn 50 năm mà vẫn thầm tự hào về nhan sắc, về hàm răng trắng như ngà khiến biết bao chàng trai ngưỡng mộ.

 

Cố kìm nén niềm xúc động, GS Phương hỏi: “Nếu tìm được hài cốt em thì đưa về quê mình, cạnh mộ bố mẹ hay đưa em về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, nơi anh Sơn đang nằm ?” Cô Khang đáp: “Mẹ bảo em: Con là phận gái chết trẻ, không chồng con gì. Về với bố mẹ để  sau này cháu chắt còn thăm viếng, hương khói cho con. Nhưng anh Sơn thì bảo: Em là đội trưởng đội nữ du kích Hoàng Ngân. Em cứ về nghĩa trang liệt sĩ cho có anh có em. Tổ quốc ghi công mình cơ mà. Anh Sơn hôm nay cùng về với em đấy”. Suốt nữa tiếng đồng hồ cố nén niềm xúc động, giờ, không kìm được nữa, Gs Phương khóc òa: “Trời ơi !  Anh Sơn”  Ông lẳng lặng rút trong túi ra một bức ảnh, đưa cho Bích Hằng. Nhìn qua Bích Hằng bảo: “Đúng đây là ảnh Bác Sơn rồi. Nhưng trông  bác già và gầy hơn trong ảnh”. GS Phương gật đầu xác nhận. Bức ảnh chụp từ năm 1948, khi anh Sơn đang công tác ở Sơn Tây nên trông rất điển trai.

 

Anh Sơn trách GS Phương. “Chú đi tìm em khang mà chẳng nói với anh một câu. Lần sau, chú báo trước cho anh, anh sẻ dẫn đường cho chú đến tận nơi. Ai khoanh cho chú cái chổ ấy là họ hiểu biết đấy. Cũng may là khúc sông ấy hơi công lại, xác em mình mới dạt vào. Nếu không đã trôi tuột mất rồi. Mẹ khóc thương em Khang nhiều lắm. Cứ muốn đưa em Khang về bên mẹ để ôm ấp. Nhưng anh lại khuyên em Khang về nghĩa trang liệt sĩ vì đây là vinh dự của em mình, của gia đình mình cơ mà. Tổ quốc ghi công mình, đời đời nhân dân thắp hương cho mình chứ đâu chỉ có con cháu trong gia đình. Vả lại, đời anh chi em mình đã vậy chứ đến đời thằng An thì nó còn biết gì. GS Phương lại giật mình.  An là con đẻ của ông. 10 năm sau khi anh sơn hi sinh, An mới ra đời. “Hôm chú đi tìm mộ em Khang, anh cũng có theo dõi. Chú đào xuyên đến cả lớp đất nguyên thủy. Em Khang đâu có nằm sâu thế. Chỉ hơn 1m là đến lớp cát đen rồi. Em mình chỉ nằm tầm đó thôi. Lần này đào tiếp chú để ý sẻ thấy thanh củi mục. Thực ra đó là cái cán Thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình”. GS Phương hỏi: “Anh bỏ sẻ dẫn đường cho em. Vậy làm cách nào mà em nhận biết được ?”. Anh Sơn: “Anh không thể nắm tay chú mà dẫn đi như người trần được. Nhưng anh sẻ sai khiên một con vật nào đó như con ong, con bướm chẳng hạn, dẫn đường cho chú. Làm việc này đối với người âm là khó đấy nhưng anh sẻ cố. Khi thấy con vật chú gọi nó rồi đi theo nó, đến chổ nó đậu. Hôm nào đi, chú mua ít hoa quả thắp hương mời chị em. Người ta chết cùng nhau, mình chỉ hì hục đào tìm em mình thì người ta cũng tủi. Phía trên mộ em Khang là mộ một chị liên lạc, cấp dưỡng cho đội du kích, người địa phương, nên báo cho gia đình chị ấy biết để mà đến tìm. Chú kiếm cho anh mấy bao Cáp – tăng để anh mời anh em, Bây anh cũng chỉ huy cở trung đoàn đấy.

 

GS Phương hỏi đôi điều về đời sống của anh Sơn và cô Khang. Cô Khang bảo: “Có lần, em về thăm chị Nghĩa mà không vào được, chỉ đứng ngoài nhìn vào” ( chị Nghĩa là chị cả của gia đình GS Trần Phương). Anh Sơn vội giải thích: “Em Khang bị chết trôi sông. Đã có ai bắc cầu đâu mà hể nhớ chị nhơ em thì chổ nào cũng vào được. Bây giờ, cuộc trò chuyện ở đây tạm kết thúc. Cô Khang đi với anh đến nhà Quỳnh chơi” ( Quỳnh là em út của GS Phương). Nói rồi biến mất. Cốn băng ghi âm 90 phút cũng vừa vặn hết.

 

Sau này, GS Phương đã nghe đi nghe lại cuốn băng ghi âm nhiều lần. Qua những tên người trong gia đình được nhắc đến một cách ngẫu nhiên, qua cách xưng hô, sự hiểu biết  tính cách từng người khi còn sống, cách xữ sự và tâm tư tình cảm người nói, GS Phương tin chắc rằng: đó là vong tinh của anh Sơn và em Khang. Người khác, dù biết rõ gia đình GS Phương đến mấy, cũng không tể sáng tác ra kịch bản như thế, huống hồ Bích Hằng là người hoàn toàn xa lạ, lần đầu tiên được gặp GS. Song điều khiến GS băn khoăn là: “Nếu đúng là khi người ta chết đi, vẫn còn lại một cái gì đó mà người đời thường gọi là linh hồn thì linh hồn là gì ? Nó phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì Bích Hằng mới có thể nhìn thấy và nhận diện qua ảnh. Phải phát ra tiếng nói qua một tần só nào đấy thì Bích Hằng mới có thể nghe thấy và nói lại cho tôi nghe. Đối với tôi, nó là vô hình nhưng đối với Bích Hằng, nó là hữu hình. Đối với tôi nó là câm lặng nhưng đối với Bích Hằng, nó lại phát ra âm thanh với đầy đủ những sắc thái sống động của tình cảm, tư duy, hệt như tiếng nói của người đang sống. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Nếu linh hồn là một dạng vật chất có hình thù và khả năng phát ra âm thanh thì theo cách nói của triết học, nó thuộc phạm trù tồn tại mang tính khách quan chứ không thuộc phạm trù ý thức mang tính chủ quan. Nhận biết được nó hay không là tùy khả năng từng người. Đối với tất cả những gì ta chưa có khả năng nhận biết được mà đã vội vất vào cái sọt rác, gán cho cái mác mê tín dị đoan thì khoa học còn việc gì để nghiên cứu ? Lâu nay, tôi cứ đinh ninh cho mình là duy vật, hóa ra chính mình lại là duy tâm chủ quan: Cái gì mình cho là có tồn tại thì nó tồn tại. Cái gì ta cho là nó không tồn tại thì nó không tồn tại, nó chỉ là mê tín dị đoan”.

 

Lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với linh hồn, GS Phương nhận ra như thế. Song những thông tin do linh hồn cung cấp đúng hay sai thì phải chờ vào kết quả cuộc đào bới. Điều kỳ thú là thông tin do Bích Hằng cung cấp về vị trí hài cốt lại trùng khớp với tấm sơ đồ do nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã vẻ trước đây nên GS Phương vô cùng háo hức, coi đây cũng là dịp để kiểm nghiệm lại “cái trận đồ bát quái” của anh. Hy vọng xem lẫn hoài nghi, ông nóng lòng chờ ngày hẹn Bích Hằng về La Tiến. Và cuối cùng, ngày hẹn được ấn định: 17 – 8 – 1999.

 

( Chú thích: Giáo sư Trần Phương & Phan Thị Bích Hằng)

 

CHUẨN BỊ CHO CUỘC TÌM MỘ LẦN THỨ 5

 

Ngày 13-8-1999, tức 4 ngày trước khi tiến hành cuộc đào bới, GS Phương đã cử người em ruột là chú Quỳnh cùng anh Tân Cương về La tiến làm một số công việc chuẩn bị. Trên đường đi, anh Tân Cương gọi điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã,  thông báo toàn bộ sự việc. Biết tin Bích Hằng vào cuộc, anh Nhã rất mừng.  Từ Sài Gòn, anh cho một tín hiệu: “ Khoảng 10h sáng, sẽ có hai con bướm màu sắc sặc sở bay lượn quanh mộ rồi đậu lại. Hãy đánh dấu lấy chổ đó”

 

Đến nhà ông Điển, đúng 10h, anh Tân Cương ra vườn ngồi chờ dưới gốc nhãn. Bỗng hai con bướm đen đốm hoa từ đâu bay tới lượn tung tăng.  Anh Tấn Cương nín thở dán mắt nhìn. Rồi một con bay đi, một con đậu lại trên cành nhãn. Anh Tân Cương vội chạy lại, chiếu thẳng cành nhãn xuống đất, cắm một cây que đánh dấu. Cây que cách chổ đặt quả trứng bữa trước 2m ra phía bờ ao. Ông Điển đứng bên tường hoa theo dõi cứ tủm tỉm cười. Lúc vào nhà uống nước, ông có mời thầy về cúng. Thầy chỉ mộ cô nằm đúng vào vị trí của cây que đó.

 

Rời nhà ông Điển, anh Tân Cương đến thẳng Ủy ban xã để điều tra xem trong danh sách liệt sĩ, có ai là Nguyễn Thị Bê không ? Tìm đi tìm lại đống sổ sách, lần hỏi từng cụ già trong làng mà chẳng ai biết cái tên như thế. Điều đó lại khiến GS Phương hoang mang. Vậy là em Khang nói sai ? Cả anh Sơn nữa. Anh còn nói cụ thể chị Bê là liên lạc, cấp dưỡng của đội du kích nữ Hoàng Ngân nữa cơ mà. Chẳng nhẽ người nói chuyện với mình bữa trước không phải là em Khang, anh Sơn.

 

Cuối cùng, ngày 17-8-1999 cũng đến. Đêm hôm trước, GS Phương không sao chớp mắt được. Lòng dạ cứ bồn chồn. Ruột nóng như có người hơ lửa. Nửa đêm, ông lụi cụi dậy thắp hương, báo cáo với anh Sơn việc tìm em Khang ngày mai. Ông vừa khấn vừa run. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong đời, vị GS tóc hoa râm mới tự mình làm cái việc tâm linh huyền bí đó.

 

EM CỦA ANH ĐÂY RỒI !

 

Thực hiện đúng lời dặn của anh Sơn, ngày 17 – 8 – 1999, gia đình GS Trần Phương chuẩn bị đầy đủ lễ vật gồm: hương hoa, tiền vàng, nải quả và mấy bao thuốc là Cáp-tăng, thẳng đường xuống La Tiến. Vừa tới nhà ông Điển bà chị của GS đã phăm phăm bước ra vườn, bày biện lễ vật lên chiếc mâm rồi đặt lên tường hoa để nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng khấn mời. Cả nhà thành tâm chắp tay cầu nguyện. Khấn khứa một hồi, Bích Hằng cầm bó hương nghi ngút khói đi thẳng ra gốc cây vải, gần cây nhãn sát bờ ao, ngắm ngắm nghía nghía rồi cắm bó hương xuống đất. Lấy đó làm tâm, chị vạch một hình chữ nhật rồi bảo GS Phương. “Lúc cháu đang chắp tay khấn đã thấy bác Sơn và cô Khang đứng ở gốc cây vải vẫy cháu lại rồi chỉ cho cháu chổ cắm hương này, cả đầu và chân ngôi mộ nữa”

 

Nhìn bó hương Bích Hằng cắm, GS thấy nó cách quả trứng bữa trước chừng 3m ra phía bờ ao và hình chữ nhật nằm ngoài hình tam giác đào lần trước , cạnh của nó là cạnh đáy của hình tam giác nối dài ra phía bờ ao. Trong khi top thợ thuê  đào tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị  khai quật thì Bích Hằng khẽ khàng đặt bức ảnh  cô Khang dưới gốc cây vải. Mắt nhìn vào tấm ảnh, chi chắp tay trước ngực nói bằng một giọng nhẹ như gió thoảng: “ Thư cô! Chổ cô nằm, cháu đã vạch đúng như cô chỉ. Còn hài cốt thì như hiện trạng cháu nhìn thấy, còn rất ít, khi bóc lên có thể mủn ra. Vậy xin cô cho phép bốc lẫn cả đất mang về. Nếu không được đầy đủ mong cô thông cảm cho”. Cô Khang bảo: “Lần này nhìn thấy cậu Quỳnh là chị phấn khởi rồi. Cậu Quỳnh mà đi thì chắc là được ( Quỳnh là em ruột cô Khang, vốn là người tin vào thần phật, lần trước không đi). Còn anh Phương thì thần thánh anh ấy cũng chẳng sợ, có khi chỉ nhiễu quan trần, còn quan âm thì chẳng ai giúp. Anh Sơn cũng ở đây suốt từ sáng. Anh ấy trách cháu An. Nếu mà lần trước nó kiên trì bình tĩnh thì đã đưa được em về rồi”. Bỗng Bích Hằng gọi: “Ai là Hậu ? Cô Khang muốn gặp chị Hậu”. Bà Hậu, chị của GS Phương, đang ngồi uống nước trong nhà ông Điển nghe vậy vội lập cập chạy ra. Cô Khang nói tiếp: “Chị đã cất công xuống tận đây mà không ra với em, lại cứ ngồi lỳ trong đấy. Hài cốt của em không còn nguyên vẹn. Nhưng chị bốc cho em dù chỉ một nắm đất về quê mình là em cũng mừng rồi. Ở đây tuy có nhiều chị em đồng đội nhưng không phải là ruột thịt, cả năm chả ai thắp cho một nén hương, em tủi lắm. Chả lẻ cứ ở đây quấy ông An mãi”. Bác Sơn nói chen vào: “Mọi người cứ bốc cho bằng hết. Dù ít dù nhiều cũng là máu thịt của em mình. Không bỏ vừa trong tiểu thì đắp lên mộ cho em”. Anh Tân Cương hỏi: “Cô có biết cháu không ạ? Nhiều người không tin là thi thể cô có thể trôi dạt vào đây. Cháu vừa nghe cô nhắc đến ông An là ông An nào ? ở đâu ạ?”. Cô Khang: “Nếu có cách gì làm cho cụ Đặng Đình Giám sống lại thì gia đìn mình khỏi phải mất công tìm kiếm. Rất tiếc đã gặp cụ dưới âm phủ mất rồi. Lúc giết em xong, giặc ném xác em xuống sông. Mấy ngày sau xác nỗi lên, gặp lúc triều cường, dạt vào một khúc quanh. Cụ Giám nhìn thấy, vớt lên, kéo qua một cái rãnh nước rồi dừng lại. Cụ bảo: Mấy vị chết ở đây, nếu đói khát, khi nào nhà ông An lên hương thì vào nhà xin lộc” Rồi cô Khang chỉ cho Bích Hằng ngôi mộ người đàn ông Hải Dương, ngay kế bên phía chân cái hố sắp đào. Bích Hằng bảo: Người đàn ông ấy đứng bên cạnh cô Khang xưng tên mình và có nói mấy câu nhưng nói nhỏ quá, chị không nghe thấy. Phải đến lúc cô Khang nói, chị mới nghe được. Khi cô Khang chỉ ngôi mộ, chị nhìn thấy rõ một bộ hài cốt không đầu.

 

Tốp thợ bắt tay đào. Đào hết lớp đất “vượt thổ” thì Bích Hằng bảo “dừng lại”. Chị nhảy xuống hố, lấy tay gạt nhẹ từng lớp cát đen, sâu thêm chừng một gang tay thì vướng vào thanh củi mục. Nạy lên, thả vào nước. Mọi người chợt ồ lên khi nhận ra đó là một khúc tre già,  thịt tre đã phân hủy hết nhưng xơ và đốt tre vẫn còn nguyên. Khúc tre dài hơn một gang tay, to bằng cổ tay người lớn, không thể tra vừa bất cứ một loại xẻng hay cuốc nào, chỉ có thể tra vừa thuổng (Loại thuổng hình lưỡi mai, mặt phẳng, bề ngang nhỏ hơn lưỡi xẻng, có nơi gọi là mai). Mọi người vô cùng kinh ngạc khi thấy lời dặn của bác Sơn trong buổi gọi hồn chiều ngày 9-8 “Lần này đào tiếp, chú để ý sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình” đã linh ứng một cách kỳ lạ. Riêng GS Phương thì vui mừng khôn xiết. Vì đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để chứng minh đó chính là mộ của em gái mình. Cái cán thuổng đã bị vùi sâu dưới lòng đất gót 50 năm rồi, không ai có thể ngụy tạo ra nó được. Dấu hiệu đó lại do chính linh hồn anh Sơn mách bảo cách đó 9 hôm, người đời bằng con mắt trần không ai nhìn thấy mà mách bảo được.

 

Sau khi tìm thấy cán thuổng, Bích Hằng chỉ gạt vài lớp đất mỏng nữa thì bắt gặp hài cốt của cô Khang. Trùm lên sọ là một mnagr tóc đen nhánh. Những đốt xương cổ hiện lồ lộ trên nền cát đen. Nhưng ki bàn tay Bích Hằng vừa chạm đến, mớ tóc vụn mũn ra luôn, còn những đốt xương thì gãy ra như những chiếc bánh quy thấm nước. Qua hình dáng hài cốt, có thể mường tượng ra, khi chôn, người ta đã đặt cô nằm nghiêng, người hơi cong, mặt hướng ra vũng Quạ, đầu hướng về Tây Bắc, chân về hướng Đông Nam. Bích Hằng khẽ khàng bóc tất cả số bùn đất theo hình nằm cong ấy cho vào tấm vải đỏ. Chị hỏi cô Khang: “Thưa cô! Răng cô ở đâu để cháu mang đi đãi à?”. Bốc vài nắm đất tìm bới, cuối cùng tìm được 5 chiếc. GS Phương cho lên lòng bàn taynhinf kỹ thì thấy đúng là những chiếc răng trắng nhưng do ngâm quá lâu trong bùn đất nên đã ngã sang màu xám và đen xỉn. Thấy vậy, mấy người đứng trên bờ nhắc Bích hằng tìm móng tay. Chị bèn hỏi cô Khang: “Thế còn móng tay cô chổ nào, cô chỉ cho cháu ?” Bỗng thấy Bích Hằng khóc nấc lên. Một lát sau, chị nghẹn ngào kể với GS Phương: “Cô Khang giơ hai bàn tay lên toe toét máu ra trước mặt cháu, bảo: Chúng nó rót hết móng tay cô rồi, còn đâu nữa mà tìm hả cháu”. GS Phương chết lặng. Một nổi niềm chua xót, buốt lòng dâng lên khiến ông đứng lặng, không nói nên lời. Ông chợt nhớ lại. Ngày ấy, sau khi em khang bị giặc giết, huyện ủy Phú Cừ có gửi thư riêng cho ông bản báo cáo, kể rõ em khang bị địch bắt, tra tấn dã man và bị giết đau đớn như thế nào. ( Vì ngày ấy, ông phó bí thư huyện ủy Hưng Yên, có nhiều gắn bó với huyện Phú Cừ ). Chúng dùng kìm, rút từng chiếc móng tay của em Khang rồi cắm kìm vào đó cho mưng mủ, lấy giày đinh dẫm lên mặc che em  Khang giãy giụa, quằn quại. Dã man hơn, chúng còn dí điện vào hai đầu vú, thọc gậy vào âm hộ, treo ngược lên cành cây như bì cát rồi thỏa sức đấm, đá… Những chuyện buốt lòng ấy, GS Phương đã chôn kín trong lòng, không hé lộ cho bất kỳ ai trong gia đình. Ông sợ mọi người không chịu đựng được nỗi đau ấy. Nay, thấy Bích Hằng nói vậy, ông vô cùng xúc động. Và càng tin chắc rằng, bộ hài cốt kia đích thị là người em gái xinh đẹp và kiên trung của mình.

 

Bích Hằng vẫn lúi húi dưới hồ tìm kiếm và chỉ đạo mấy người giúp việc. Chị tìm mãi chiếc còng sắt vẫn không thấy. Hỏi cô Khang, cô củng không chỉ được. GS Phương bảo: “Có thể nó bị rỉ thành đất qua 50 năm ngâm trong bùn”.  Thỉnh thoảng , Bích Hằng lại nhô đầu lên nói  chuyện với gia đình GS Trần Phương. Bổng chị bảo: “Có một cụ cứ ngồi nhìn rồi tủm tỉm cười. Không biết có phải cụ Giám không?”. Rồi chi cất giọng lễ phép hỏi: “Cháu chào cụ ạ! Cụ cho cháu được phép biết quý danh của cụ”. Lắng nghe hồi lâu, Bích Hằng nói như reo lên: “Cụ An”. Nói đoạn, Bích Hằng tự giới thiệu mình cùng gia đình đi tìm hài cốt cô Khang và đề nghị cụ giúp đỡ. Cụ an bảo (qua Bích Hằng): “Tôi là hàng xóm, nhà tôi ở vệ đê. Lần nào các bác về đây tìm mà tôi chả biết. Tôi còn nhớ như in đêm hôm ấy, vào lúc gà gáy canh 2, ông Giám qua nhà tôi mượn cái Mai. Tôi hỏi để làm gì? Ông ấy giơ ngón tay lên miệng: “Suýt! Để chôn người chết trôi”. Tôi nhìn kỹ thì thấy một cái xác cụt đầu, biết ngay là cán bộ cách mạng. Ở chổ kia trước là cái rãnh nước. Ông Giám kéo mấy cái xác qua đó, đến đây là chân ruộng mạ. Ông Điển mới ở đây thôi chứ ngày xưa là chân ruộng mạ, thuộc chủ khác”. Bích Hằng bèn đưa ảnh cô Khang hỏi: Cụ có nhận ra ai đây không ạ?”. Cụ An bảo: “Bà này là thân nhân của một cán bộ tĩnh ủy ở đây. Nhưng chôn cất như thế nòa thì cả tôi, cả ông Yên, ông Trọng đều không biết gì đâu. Chỉ có mình ông Giám biết thôi. Để tôi đi tìm ông Giám cho”

 

Chờ một lúc lâu, Bích Hằng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ đi cùng cụ An về. Cụ An cười bảo: “Tất cả những chuyện cô cần biết chỉ có mình ông Giám này là giúp được thôi”. Bích Hằng nhỏ nhẹ giới thiệu và nêu ra đề nghị với cụ Giám: Nhận diện người chết qua tấm ảnh và chỉ giùm cái cồng sắt nó nằm ở nơi nào ? Cụ giám nói: “Đêm đấy trời đen như mực nên tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng thôi. Xác ngâm dưới nước lâu ngày đã trương lên rồi, mặt mũi nhìn không rõ. Tóc thì không vấn như trong ảnh này đâu mà cắt ngang gáy như cô bây giờ. Nhưng õa xượi dưới nước. Lần ấy, tôi đem về không phải một người mà những 3 người cơ. Tôi kéo người phụ nữ lên trước nhưng cứ thấy vướng vướng. Nhìn kỹ hóa ra tay cô ấy bị xíc vào tay người đàn ông. Khi chôn người phụ nữ ở đây còn người đàn ông ở kia. Sức tôi cũng chỉ kéo được có thế. Khi chôn vì xác bị trói đã cứng lại, không nắn thẳng ra được nên đành đặt nằm nghiêng, mặt hướng ra sông cho mát mẻ. Còn người phụ nữ nữa tôi chôn ở góc kia, chổ góc cây nhãn ấy. Nhưng bây giờ đã tụt xuống ao mất rồi. Hình như lúc chết, bà ấy mang thai hay sao ấy”. Anh Tân Cương hỏi: “Một số người thắc mắc, không hiểu được tại sao xác chết trôi sông lại có thể dạt vào đây được” Cụ Giám gắt: “Cái con mẹ Tiến nó cứ mồm năm miệng mười chứ làm sao mà nó biết bằng tôi được. Ở ngoài kia nước cả, không đem vào đây thì vùi ở đâu”. Ngưng một lát, cụ nói tiếp: “Điều này thì tôi chỉ nghe phong thanh thôi. Tui lính dõng ở đồn nó bảo người phụ nữ bị giết đêm hôm ấy ( cô Khang) là bà bé của tay xếp bốt”. Cụ An cãi lại: “Ông thì được cái ăn no vác nặng, có biết gì đâu. Có lần ông chôn một anh bộ đội, ông lại bảo thằng lính dõng. Tôi thì không được kéo xác như ông nhưng việc này thì tôi biết rõ. Có một người nữ du kích bị bắt (cô Khang), thằng xếp Bách dụ làm vợ bé không được, nó đã giết đi. Ở bốt này có một thằng quan Tư là quan thày người Pháp còn thằng Bách tuy là tay sai nhưng cũng được gọi là xếp. Thằng Bách lấy vợ người La Tiến làng mình, ai mà chẳng biết rõ về nó”

 

Trời đã xế chiều. Mọi người hối hả thu dọn. Bác Sơn bảo ( qua Bích Hằng ): “Còn cái chân của cô, moi sâu vào mà bốc. Được bà chị xuống với em, chẳng giúp được việc gì, chỉ ngồi khóc”. Anh Tân Cương tưởng bác Sơn nói đến cô Nam ( chị gái của cô Khang) đa cảm, hay xúc động liền nói chêm vào: “Sáng nay, bà ấy cứ nhất định đòi đi”. Bích Hằng thấy vậy, liền cải chính: “Không phải thế đâu. Bác Sơn nói đến bà chị là bác Nghĩa (đã mất ) cơ. Từ nãy, bác ấy cứ ngồi một chổ. Bác ấy bảo: Nhà có 6 chi em gái, ai nấy đều có phận. Riêng em tôi giỏi giang xinh xắn nhất nhà thì lại chịu cảnh thế này. Không tìm được xác em, lúc tôi chết  cũng không nhắm được mắt. Bây giờ tìm được em thì mình đã thành người thiên cổ rồi”. GS Phương nghe thấy bác Nghĩa nhắc đến 6 chị em, vội giơ đốt ngón tay đếm. 6 hay 5 nhỉ? Đúng là 6 thật! Bác Sơn như hiểu ý của anh Tấn Cương, nói: “Ui giời! Chó cái cô Nam xuống đây thì chỉ được vậy”. Cô Khang nói: “Buồn cười quá! Sau lần gặp cô em, về đến nhà, ông anh Phương vội vàng bốc cát lập ngay…7 bát hương. Mỗi người một bát. Đúng là một cuộc cách mạng. Em Khang cảm động ghi nhận tấm lòng của anh Phương, chị Thủy”. ( Bà Thủy là vợ của GS Phương ). GS Phương giật mình. Quái lạ! Việc ông lập đến 7 bát hương, thờ phụng ở nhà ( một bát thờ tổ tiên, một bát thờ cụ nội, một bát thờ ông bà nội, một bát thờ bố mẹ, một bát thờ anh Sơn,  một bát thờ cô Khang, một bát thờ con giai chết trẻ - thế cô Khang mới buồn cười) chỉ có mình ông và vợ biết, có nói với ai đâu. Tại sao Bích Hằng lại nói đúng thế nhỉ?

 

Cụ An bảo: “Cô Khang là liệt sĩ, sao không làm lễ truy điệu rồi hãy mang về quê?” Bác Sơn vội giải thích: “Hôm nay cập rập quá, gia đình chuẩn bị không kịp. Hôm tới đưa về nghĩa trang liệt sĩ của huyện sẽ làm lễ truy điệu sau”. Cô Khang bảo: Cậu Quỳnh còn giữ những giấy tờ, bằng khen của chị không?” Chú Quỳnh đáp: “Bằng khen và huân chương của chị, em vẫn giữ”. Cô Khang: “Hôm này làm lễ truy điệu chị ở nghĩa trang liệt sĩ, cậu nhớ mang theo nhé”. “Chao ôi! Người con gái đã hy sinh ngót 50 năm mà vẫn quan tâm đến những vinh dự của mình nơi trận thế -  GS Phương ngậm ngùi nghĩ mà lòng rưng rưng xúc động”.

 

Nói đoạn, cô Khang quay lại nhìn cụ Giám, cười bảo: “Cụ Giám ạ! Vừa rồi cụ nói oan cho tôi quá. Tôi đã được làm vợ bé ngày nào đâu”. Bích Hằng thông dịch đến đây, mọi người trên bờ cười ồ cả lên. “Nhưng cụ nói đúng đấy. Ngày xưa ai cũng gọi tôi là cô Khang tóc dài. Nhưng khi bị bắt, giặc đã cắt cụt hết. Trong việc chôn cất các liệt sĩ ở đây, cụ là người có công lớn nhất. Chúng tôi vô cùng biết ơn cụ. Nay tôi về Mỹ Hào quê tôi, về với anh Sơn. Nằm lại đây còn một bộ hài cốt, gia đình người ta cũng sẽ đến bốc về. Chỉ còn chị Bê, hài cốt không còn gì. Nhờ bác Điển hương khói cho vong hồn chị. Chị ấy sẽ phù hộ cho bác. Hồi đi hoạt động cách mạng, chị ấy tên là Nguyễn Thị Bê nhưng tên thật của chi ấy là Nguyễn Thị Út ( mấy người trong làng đứng xem chợt ồ lên: Ôi! Bà Út. Thế mà con cháu cứ kiếm mãi). Nhờ bác Điển đem mâm lễ phát lộc cho các cháu”.

 

Mặt trời khuất hẳn sau lũy tre ven sông thì công việc thu vén hài cốt cũng xong. Mọi người vây quanh gốc cây vải, nơi đặt bàn thờ tạm. Bích Hằng bảo: “Suốt ngày cô Khang và bác Sơn quanh quẩn ở đó. Buổi chiều, bác Nghĩa cũng ngồi ở đó ôm lấy tấm ảnh cô Khang mà khóc. Cụ An và cụ Giám thì ngồi phía tường hoa”. Trời nhọ mặt người, gia đình GS Trần Phương mới đưa hài cốt của cô Khang về nhà. Hai ngày sau, lễ truy điệu người nữ du kích anh hùng Trần Thị Khang đã diễn ra trọng thể tại nghĩa trang liệt sĩ của huyện với sự có mặt của hơn 300 người gồm các ban ngành, chính quyền, đoàn thể cùng đông đủ họ hàng nội ngoại. Người xúc động nhất buổi hôm ấy, có lẽ là GS Phương. Sau 24 ngày mò tìm trong bí ẩn, nhiều lúc tưởng chừng như tuyệt vọng, cuối cùng, hài cốt của người em gái thân yêu đã tìm thấy. Đó là kết thúc có hậu. Đó cũng là hành trình đưa GS đến với thế giới tâm linh đầy huyền hoặc với những khám phá bất ngờ, thú vị và cả nhữn day dứt, trăn trở…

 

 

 

NHẬN XÉT CỦA GS TRẦN PHƯƠNG

 

GS Trần Phương, nguyên phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trương Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội: “Hài cốt em tôi đã tìm thấy những  cách thức tìm của các nhà ngoại cảm, với tôi, vẫn còn là bí ẩn. Khám phá ra bí ẩn này, như tôi biết, không phải là điều dễ dàng gì. Ở đây, tôi chỉ xin đề xuất một số vấn đề để các nhà nghiên cứu xem xét.

 

1.  Tôi có căn cứ để tin rằng: Tôi đã gặp linh hồn em Khang, thậm chí cả linh hồn cụ Giám, cụ An… Bích Hằng đã nhận dạng được linh hồn qua tấm ảnh, đã nghe được tiếng nói của linh hồn. Như vậy, linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì mới có hình thù và khả năng phát ra tiếng nói như vậy. Đã là một dang vật chất thì vật lý học, hóa học, sinh học, y học…với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Vậy các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó ?

 

2.  Tôi nhận thấy linh hồn người chết vẫn thể hiện những tình cảm vui buồn, ước muốn, vẫn kể lại rành rọt, chính xác những việc đã qua, kể cả những sự việc sau khi mình đã chết, vẫn theo dõi những việc mà người sống đang làm … Như vậy, linh hồn đâu phải là vật thể vô tri vô giác mà là những vật thể sống, có tư duy tình cảm…Điều này đặt ra một loạt câu hỏi: “Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới của chúng ta đang sống không ? Nó hoạt động như thế nào, tác động gì đến thế giới của chúng ta ? Linh hồn có mất đi hay tồn tại mãi ? Người sống dâng cúng đồ lẽ, tiền vàng là đúng hay nhãm nhí ? Tìm lời giải cho những vấn đề này, nếu chỉ dựa vào suy luận thì sẽ dẫn đến những cuộc tranh cải bất tận. Vấn đề mấu chốt là phải chứng minh.

 

3.  Hầu hết mọi người đều không nhìn thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn. Ngoại trừ một số hiếm hoi là các nhà ngoại cảm. Vậy khả năng đặc biệt ấy là do cấu tạo sinh lý?

 

4.  Để nghiên cứu lĩnh vực này, liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đã lập ra trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người ( Bộ môn cận tâm lý ). Song quyền  hạn, phương tiện nghiên cứu, tài chính hoạt động còn hạn hẹp. Nên chăng, thành lập một viện nghiên cứu có sự hỗ trợ về kinh phí của nhà nước, có sự quyên góp tự nguyện  của những người quan tâm? Nếu nghiên cứu thành công không những có ý nghĩa nhân văn mà  còn giúp có ích nhiều mặt, kể cả điều tra hình sự ( nếu vong hồn người bị giết nói ra hết kẻ giết người tránh sao khỏi tội ?)

 

5.  Trong khi chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, cần có những chính sách, chế độ ưu đãi cho các nhà ngoại cảm để họ phát huy cao hơn nữa khả năng đặc biệt vào những việc tìm hài cốt các liệt sĩ, thỏa lòng mong ước của hàng chục vạn gia đình. Tránh những lời bổ báng vội vã, tránh vơ đũa cả nắm giữa các nhà ngoại cảm có khả năng thực sự với những kẻ buôn thần bán thánh, lợi dụng mê tín dị đoan để lừa bịp, trục lợi.

( Chú thích: Tiến sĩ Vũ Thế Khanh nói về khả năng ngoại cảm và tâm linh )

Hết !

 

Thân ái !

KTS Nguyễn Đức - Cung cấp GIẢI PHÁP làm nhà đạt TIÊU CHÍ 4T: Tốt Phong Thủy – Tinh Tế - Tiện Dụng - Tiết Kiệm Chi Phí.

Xem tai: >>> http://kientrucnguyenduc.com/

Hotline, Zalo: 0909 206 708

Địa chỉ: Số 15 đường số 3, Phường Dĩ An, Thị Xã Dĩ An, Tĩnh Bình Dương.

................................................................

Châm ngôn cuộc sống !

“ Ngôi nhà đắt tiền nhất là ngôi nhà sau khi vào ở một thời gian thấy sự nghiệp lụi bại, vợ chồng lục đục chia ly, con cái hư hỏng, bệnh tật đầy người ”

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

Lượng Truy Cập

Tổng truy cập 43,413

Đang online3

HOTLINE

Hotline

HOTLINE

0909.206.708

FACEBOOK